Tình hình kinh tế – xã hội của Việt Nam dưới tác động của hội nhập kinh tế quốc tế từ sau khi gia nhập WTO

11840
Kim ngạch xuất khẩu trong 11 tháng đầu năm 2017 đã bằng 4 lần so với năm 2007.

Trong những năm kinh tế thế giới hứng chịu khủng hoảng tài chính và suy thoái, nền kinh tế đã cho thấy sức chống chịu và đạt mức tăng trưởng thuộc diện cao so với mặt bằng thế giới. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, phát huy vai trò của khu vực công nghiệp – xây dựng và dịch vụ. Chúng ta đã gia nhập nhóm các nền kinh tế có mức thu nhập trung bình ngay từ năm 2008, và có mức GDP bình quân đầu người khoảng 2.215 USD vào năm 2016 – cao hơn 2,8 lần so với năm 2006.

Trong Báo cáo về “Tình hình kinh tế – xã hội của Việt Nam dưới tác động của hội nhập kinh tế quốc tế từ sau khi gia nhập WTO” của Bộ trưởng Công Thương Trần Tuấn Anh, Phó trưởng Ban Chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế đã nêu bật ý nghĩa này. Xin giới thiệu bản Báo cáo với 3 nội dung chính: Thứ nhất, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam từ năm 2007 đến nay. Thứ hai, đánh giá tình hình phát triển kinh tế -xã hội dưới tác động của hội nhập kinh tế quốc tế trong giai đoạn 2007-2017. Thứ ba, một số kiến nghị với Chính phủ, các bộ ngành, địa phương và doanh nghiệp nhằm thực hiện hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Tổng quan quá trình hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn 2007-2017

Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, bối cảnh hội nhập kinh tế đa phương có nhiều yếu tố bất lợi. Cuộc khủng hoảng tài chính thế giới và suy thoái kinh tế toàn cầu dẫn tới suy giảm tăng trưởng kinh tế, thương mại, đầu tư ở bình diện thế giới và không ít đối tác chủ chốt của nước ta. Biểu hiện của chủ nghĩa bảo hộ nổi lên ở một số nơi, đặc biệt là từ nửa cuối năm 2016. Chương trình nghị sự phát triển Đô-ha vẫn còn bế tắc.

Trong bối cảnh đó, Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam vẫn kiên định với chủ trương chủ động, thực hiện hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Từ năm 2013, chúng ta định hướng mở rộng hội nhập toàn diện với trọng tâm là hội nhập kinh tế quốc tế. Phương thức tham gia đã chuyển từ hội nhập theo chiều rộng sang hội nhập theo chiều sâu, với những bước đi chiến lược trong việc lựa chọn các đối tác. Tính đến cuối năm 2017, Việt Nam đã và đang đàm phán, ký kết và thực hiện 16 FTA song phương, đa phương và nhiều bên với 58 đối tác.

So với giai đoạn trước khi gia nhập WTO, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của ta từ năm 2007 được thực hiện qua các tuyến đa dạng hơn, cụ thể là:

Thứ nhất, chúng ta vẫn tích cực tham gia thảo luận, hợp tác với các đối tác nhằm tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy hệ thống tự do hóa thương mại đa phương trong khuôn khổ WTO. Việt Nam đã cùng với các thành viên WTO khác kết thúc đàm phán Hiệp định Thuận lợi hóa thương mại vào năm 2013 và bắt đầu thực hiện Hiệp định này từ tháng 2/2017 (đây là Hiệp định đa phương đầu tiên được WTO phê chuẩn kể từ khi tổ chức này được thành lập).

Thứ hai, ta đã tham gia tích cực vào quá trình xây dựng Cộng đồng ASEAN đến năm 2015 và Kế hoạch hành động của Cộng đồng Kinh tế ASEAN giai đoạn 2016-2025. Trong các năm từ 2008-2015, Việt Nam luôn nằm trong nhóm thực thi các cam kết ASEAN nghiêm túc nhất với tỷ lệ thực hiện từ 85%-95%. Cùng với các nước ASEAN, chúng ta đã ký kết và thực thi hiệp định thương mại tự do (FTA) với 6 đối tác chủ chốt ở khu vực, và hiện đang cùng các đối tác này đàm phán Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP). Chúng ta cũng tôn trọng và góp phần phát huy vai trò trung tâm của ASEAN trong các cơ chế ở khu vực.

Thứ ba, ta đã mạnh dạn, chủ động ký kết các FTA song phương với các đối tác quan trọng, trong đó có Nhật Bản, Hàn Quốc, EU, v.v. Đi kèm với các hiệp định này là những cơ hội, khung khổ hợp tác sâu rộng với các đối tác về đầu tư và thương mại, phù hợp với lợi thế và định hướng phát triển của đất nước.

Thứ tư, ta đã tham gia Hiệp định FTA với tính chất nhiều bên. Nổi bật nhất là Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Dù Hoa Kỳ đã rút khỏi Hiệp định này, 11 thành viên còn lại đã đạt được thỏa thuận về Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Đây là một kết quả quan trọng bên lề Hội nghị cấp cao APEC 2017 và có vai trò rất lớn của Việt Nam.

Thứ năm, chúng ta đã chủ động, tận dụng tốt hơn cơ hội hợp tác – trên tinh thần tự nguyện, không ràng buộc – với các tổ chức, diễn đàn quốc tế như Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn Hợp tác Á-Âu (ASEM), Diễn đàn Kinh tế thế giới, v.v. Năm APEC 2017 đã thành công rực rỡ với vai trò tích cực của chủ nhà Việt Nam, thể hiện một tâm thế chủ động hơn của đất nước trong thúc đẩy hợp tác khu vực, là điều đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hội nhập ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương còn nhiều bất ổn.

Chúng ta cũng thực thi đầy đủ, nghiêm túc các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là về cắt giảm thuế quan, mở cửa dịch vụ, đầu tư, v.v. Ngoài một số ít các mặt hàng nhạy cảm có lộ trình đến năm 2019, về cơ bản ta đã hoàn thành lộ trình cắt giảm theo WTO từ năm 2014. Bên cạnh đó, chúng ta đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ ban hành các biểu thuế ưu đãi thuế nhập khẩu đối với các FTA đã ký kết, kể cả khi một số FTA đi vào giai đoạn thực hiện cam kết sâu rộng hơn.

Các kết quả hội nhập kinh tế quốc tế nêu trên có một phần quan trọng là từ những định hướng, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và Chính phủ. Trong đó phải kể đến Nghị quyết số 08-NQ/TW năm 2007 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh và bền vững khi là thành viên của WTO; Nghị quyết 22-NQ/TW năm 2013 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, và nhiều văn bản chỉ đạo liên quan khác. Đặc biệt, vào tháng 11/2016, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TW về Thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị – xã hội, trong bối cảnh nước ta tham gia hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, cùng thời điểm với Nghị quyết 05-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế, và Nghị quyết 24/2017/QH14 về kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016-2020. Nhờ đó, công tác định hướng, chỉ đạo hội nhập kinh tế quốc tế gắn chặt và nhất quán hơn với những chủ trương lớn về đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế.

Thực hiện định hướng, chỉ đạo của Đảng và Chính phủ, các Bộ ngành và địa phương đã chủ động hơn trong công tác tham vấn, thông tin về tình hình chuẩn bị, đàm phán và thực thi các FTA quan trọng. Các nhiệm vụ về hội nhập kinh tế quốc tế đã được các Bộ, ngành và địa phương lồng ghép ngày một chặt chẽ hơn vào kế hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực và địa phương. Chính sách của các Bộ, ngành và địa phương cũng hướng nhiều hơn đến phát huy lợi thế riêng và khả năng cạnh tranh của mình, tùy theo các kênh hội nhập kinh tế quốc tế riêng. Những biến động lớn trên thị trường thế giới – như khủng hoảng tài chính toàn cầu, Brexit, v.v. – đều được Chính phủ, các Bộ ngành theo dõi sát sao nhằm đề ra các biện pháp ứng phó kịp thời, qua đó giúp duy trì môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội.

Bản thân cộng đồng doanh nghiệp cũng nhận thức đầy đủ hơn về yêu cầu nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm tận dụng cơ hội từ hội nhập kinh tế quốc tế. Các doanh nghiệp đã tham gia thực chất hơn vào quá trình tham vấn chính sách, đặc biệt là khi đàm phán các FTA quan trọng như TPP hay FTA với EU. Các doanh nghiệp theo dõi bài bản hơn các diễn biến, cảnh báo về khả năng áp dụng các biện pháp kiểm dịch động thực vật, hàng rào kỹ thuật ở các thị trường đối tác.

Tình hình kinh tế-xã hội dưới tác động của hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn 2007-2017

Nhờ từng bước thực hiện hiệu quả công tác hội nhập kinh tế quốc tế, môi trường kinh tế vĩ mô ngày càng thuận lợi hơn cho việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế – xã hội trong nước. Từ việc phụ thuộc nhiều vào biến động nhanh và mạnh trên thị trường thế giới, lạm phát đã được duy trì ở mức ổn định, hợp lý. Nhờ đó, tăng trưởng kinh tế đã phục hồi vững chắc hơn trong những năm gần đây, đi kèm với ít rủi ro về lạm phát và mất cân đối vĩ mô. Tôi xin báo cáo kết quả đạt được trên một số lĩnh vực như sau:

1.     Thể chế kinh tế

Dưới tác động của quá trình thực thi cam kết WTO cũng như đàm phán, thực hiện các FTA mới, thể chế kinh tế đã ngày càng được hoàn thiện hơn.

Cho đến nay, các luật, pháp lệnh có liên quan tới việc thực thi các cam kết WTO về cơ bản đều đã được ban hành đầy đủ theo kiến nghị tại Báo cáo số 192/BC-BTP ngày 09 tháng 12 năm 2008 của Bộ Tư pháp báo cáo Thủ tướng Chính phủ về kết quả rà soát pháp luật thực hiện Nghị quyết số 16/2007/NQ-CP. Bên cạnh đó, chúng ta đã sửa đổi, bổ sung, ban hành mới một số luật, pháp lệnh trên cơ sở nhu cầu nội tại của đất nước trong giai đoạn phát triển hiện nay, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp tục chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế.

Khác với giai đoạn trước 2007, công tác hoàn thiện thể chế kinh tế trong thời gian qua không chỉ hướng tới thực hiện các cam kết quốc tế một cách thụ động, mà đã đi trước một bước nhằm thúc đẩy cải cách thể chế kinh tế, đồng thời chủ động chuẩn bị cho cộng đồng doanh nghiệp. Tiêu biểu nhất là chuỗi Nghị quyết 19 về cải thiện môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh (từ năm 2014) đã thể hiện tinh thần tự cải cách, gắn với tiêu chí đánh giá phổ biến được quốc tế công nhận, để chủ động tháo gỡ những rào cản bất hợp lý đối với hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp. Nhờ đó, môi trường kinh doanh ngày một cạnh tranh hơn và được quốc tế công nhận: Việt Nam tăng 9 bậc trong năm 2016 và tăng 14 bậc trong năm 2017 (lên thứ 68/190) theo xếp hạng môi trường kinh doanh của Ngân hàng Thế giới, thậm chí có những lĩnh vực cực kỳ ấn tượng như nộp thuế và bảo hiểm xã hội (tăng 81 bậc trong năm 2017), tiếp cận điện năng (tăng 32 bậc).

2.     Tăng trưởng thương mại, dịch vụ

Giai đoạn 2007-2017 chứng kiến nỗ lực thực thi cam kết WTO và một loạt FTA có trình độ/yêu cầu đa dạng phù hợp với năng lực của nhiều nhóm doanh nghiệp. Do đó, xuất khẩu hàng hóa giữ xu hướng tăng, tốc độ tăng xuất khẩu bình quân ước đạt 16,6%/năm. Dù thấp hơn so với giai đoạn 2000-2006 (19,4%/năm), song mức tăng trưởng này vẫn rất ấn tượng trong bối cảnh kinh tế thế giới hứng chịu tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu. Riêng trong 11 tháng đầu năm 2017, các doanh nghiệp (đặc biệt là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài) đã tận dụng cơ hội từ các FTA và sự phục hồi kinh tế thế giới để đạt tăng trưởng xuất khẩu tới 21,5%. Kim ngạch xuất khẩu trong 11 tháng đầu năm 2017 đã bằng 4 lần so với năm 2007.

Nhập khẩu hàng hóa đã được định hướng để phục vụ tốt hơn nhu cầu đầu tư, sản xuất trong nước. Tốc độ nhập khẩu trung bình đạt 15,1%/năm trong giai đoạn 2007-2017, thấp hơn đáng kể so với giai đoạn 2000-2006 (21,1%/năm).

Theo đó, cán cân thương mại hàng hóa được cải thiện đáng kể. Tỷ lệ nhập siêu so với GDP giảm liên tục từ mức 20% trong các năm 2007-2008 xuống còn 8,2% năm 2011, sau đó chuyển sang thặng dư trong khoảng từ 0,1-1,2% GDP trong các năm 2012-2017. Kết quả này có sự cải thiện đáng kể so với giai đoạn 2000-2006 (thâm hụt thương mại trung bình khoảng 8% GDP).

Cùng với xu hướng mở rộng thương mại hàng hóa, nền kinh tế Việt Nam cũng đạt độ mở ngày càng lớn. Năm 2016 độ mở thương mại xấp xỉ 171%, cao hơn so với mức trước khủng hoảng tài chính thế giới (157,4% vào năm 2008).

3.  Về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Dòng vốn đầu tư nước ngoài vào nước ta tăng mạnh kể từ năm 2007, qua đó bổ sung đáng kể nguồn lực cho phát triển kinh tế – xã hội. Giai đoạn từ đầu năm 2007 đến tháng 11/2017 có hơn 18 nghìn dự án được cấp phép mới, tương đương 2,2 lần số dự án trong cả giai đoạn 1988-2006. Tổng vốn đăng ký mới và tăng thêm từ năm 2007 đến nay đạt 296,4 tỷ USD, bằng 3,8 lần so với giai đoạn trước WTO. Kết quả này có nguyên nhân quan trọng từ: (i) gia tăng cơ hội cho nhà đầu tư nước ngoài từ các FTA mà Việt Nam đã, đang đàm phán và thực hiện; và (ii) nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư – kinh doanh của Chính phủ, các Bộ ngành và địa phương.

Tính đến tháng 11/2017, có 126 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam. Những đối tác đầu tư quan trọng hàng đầu cũng đều là những đối tác thương mại chủ chốt trong các FTA khu vực, trong đó có Hàn Quốc (chiếm 18,1% tổng vốn đầu tư), Nhật Bản (15,5%), và Xinh-ga-po (13,2%).

4.  Một số lĩnh vực khác

Cùng với việc thực hiện các FTA (đặc biệt gắn với mở cửa thị trường giáo dục) và các sáng kiến phát triển nguồn nhân lực, trình độ, kỹ năng của nguồn nhân lực có những bước tiến đáng kể từ năm 2007. Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 34,75% năm 2007 lên 49% cuối năm 2014.

Bên cạnh đó, Việt Nam đã trở thành điểm sáng trong thực hiện chính sách xã hội ở nhiều mục tiêu: Đạt được hầu hết các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG), đặc biệt về giảm nghèo, giảm trên 3/4 tỷ lệ nghèo, thu nhập bình quân nhân khẩu của hộ nghèo tăng. Các đối tượng xã hội được bảo trợ ngày càng tốt hơn.

  1. Đánh giá chung

Nhìn chung, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn 2007-2017 có ảnh hưởng không nhỏ đối với thể chế kinh tế nói chung và phương thức điều hành kinh tế – xã hội nói riêng. Trong những năm đầu sau khi gia nhập WTO, những điểm yếu cố hữu của nền kinh tế – như mất cân đối đầu tư – tiết kiệm, thâm hụt thương mại, khả năng cạnh tranh chậm cải thiện, … – bộc lộ rõ nét hơn dưới tác động của hội nhập kinh tế quốc tế. Đây chính là một trong những cơ sở quan trọng để Đảng, Chính phủ kiên định hơn với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế.

Do đó, dù mức tăng trưởng trung bình chỉ đạt 6,04%/năm trong giai đoạn 2007-2017 (thấp hơn so với 7,51%/năm trong 2000-2006), song chất lượng và đà phục hồi tăng trưởng kinh tế ngày một vững chắc hơn. Dự báo mức tăng trưởng kinh tế năm 2017 đạt 6,7% – một trong bước phục hồi ấn tượng nhất trong nhiều năm qua. Trong những năm kinh tế thế giới hứng chịu khủng hoảng tài chính và suy thoái, nền kinh tế đã cho thấy sức chống chịu và đạt mức tăng trưởng thuộc diện cao so với mặt bằng thế giới. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, phát huy vai trò của khu vực công nghiệp – xây dựng và dịch vụ. Chúng ta đã gia nhập nhóm các nền kinh tế có mức thu nhập trung bình ngay từ năm 2008, và có mức GDP bình quân đầu người khoảng 2.215 USD vào năm 2016 – cao hơn 2,8 lần so với năm 2006.

Với việc thực hiện chủ trương hội nhập quốc tế toàn diện với trọng tâm là hội nhập kinh tế quốc tế, vị thế của đất nước tiếp tục được cải thiện đáng kể. Ta đã có 3 đối tác chiến lược toàn diện, 15 đối tác chiến lược và 12 đối tác toàn diện – hầu hết đều được thiết lập trong giai đoạn 2007-2017. Tiếng nói và vị thế của ta được coi trọng, ghi nhận ở không ít tổ chức, diễn đàn quốc tế như Liên hợp quốc, UNESCO, APEC, v.v.

Tuy vậy, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn 2007-2017 cũng cho thấy một số tồn tại, cụ thể là:

Thứ nhất, mặc dù đã ban hành Chiến lược tổng thể về hội nhập quốc tế, tuy nhiên việc triển khai thực hiện Chiến lược trong thực tế còn một số bất cập. Các hoạt động hội nhập kinh tế quốc tế và mở rộng quan hệ trong các lĩnh vực chưa được triển khai đồng bộ, nhịp nhàng trong một chiến lược tổng thể. Một số chương trình, hoạt động chậm được cụ thể hóa, hoặc cụ thể hóa mà không tính đến chiều cạnh tương ứng của hội nhập kinh tế quốc tế.

Thứ hai, cải cách trong nước, nhất là về mặt thể chế, vẫn chưa đáp ứng và chưa theo kịp các yêu cầu của việc thực thi cam kết hội nhập kinh tế quốc tế. Trong khi đẩy mạnh quá trình đàm phán, ký kết và thực hiện các cam kết quốc tế thì việc điều chỉnh chính sách trong không ít trường hợp còn chậm hoặc mang tính đối phó, chưa đồng bộ.

Thứ ba, khả năng nhận định, đánh giá và dự báo về xu thế và diễn tiến hội nhập kinh tế quốc tế chưa cao. Việc đánh giá thực hiện định kỳ kết quả hội nhập kinh tế quốc tế và tác động đối với phát triển kinh tế – xã hội chưa được quan tâm đúng mức nên kết quả rất hạn chế.

Các vấn đề trên xuất phát từ một số nguyên nhân chính. Thứ nhất, nhận thức về hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và các thỏa ước hội nhập nói riêng còn chưa cụ thể, nhất quán, đặc biệt là ở địa phương. Thứ hai, một số chủ trương, vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế chưa được lồng ghép chặt chẽ vào kế hoạch hành động của Bộ, ngành, địa phương, dẫn tới thiếu quan tâm và/hoặc điều phối thiếu hiệu quả. Thứ ba, sự phối hợp trong quá trình triển khai công tác hội nhập giữa các bộ, ngành, giữa các cơ quan Trung ương với các địa phương, doanh nghiệp chưa thực sự chặt chẽ. Cuối cùng là, nguồn lực (tài chính, nhân lực) cho công tác hội nhập kinh tế quốc tế còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu đề ra.

III. Một số kiến nghị

  1. Về phía Chính phủ, Bộ ngành và địa phương:

Thứ nhất là, cần tiếp tục rà soát, bổ sung, hoàn thiện luật pháp trực tiếp liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế, nội luật hoá theo lộ trình phù hợp những điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, trước hết là luật pháp về thương mại, đầu tư, sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ, lao động – công đoàn… bảo đảm tranh thủ được thời cơ, thuận lợi, vượt qua các khó khăn, thách thức từ việc tham gia và thực hiện các FTA thế hệ mới.

Thứ hai là, cần tiếp tục cụ thể hoá và thực hiện hiệu quả các Chương trình hành động về hội nhập kinh tế quốc tế. Các địa phương cần chú trọng việc lồng ghép việc thực thi các Chương trình hành động vào các kế hoạch cụ thể, phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương.

Thứ ba là, cần tăng cường sự phối hợp của các Bộ, ngành, địa phương trong quá trình triển khai công tác hội nhập kinh tế quốc tế; phát huy vai trò và năng lực điều phối của Ban chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế.

Thứ tư là, tăng cường sự gắn kết, phối hợp giữa hội nhập kinh tế quốc tế và hội nhập trong các lĩnh vực khác. Hội nhập trong các lĩnh vực hợp tác khác phải hỗ trợ và góp phần thúc đẩy hội nhập kinh tế.

Cuối cùng, cần tiếp tục phổ biến thông tin về hội nhập kinh tế quốc tế và hướng dẫn việc thực thi các cam kết hội nhập cho các địa phương, doanh nghiệp và người dân. Tăng cường công tác nghiên cứu, dự báo về tác động hội nhập kinh tế quốc tế. Bên cạnh đó, cần khuyến khích sự tham gia rộng rãi, tích cực và chủ động hơn của khu vực tư nhân, các hiệp hội ngành, các tổ chức chính trị xã hội và người dân trong việc tìm hiểu, thực thi các cam kết hội nhập.

  1. Về phía cộng đồng doanh nghiệp:

Thứ nhất, các doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động, thường xuyên tìm hiểu thông tin về các thị trường đối tác và các FTA mới thông qua các cơ quan chức năng đầu mối; thường xuyên tổ chức đối thoại với các cơ quan Chính phủ, nêu lên các thuận lợi, khó khăn trong quá trình thực thi các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế để Chính phủ và các Bộ, ngành kịp thời có những điều chỉnh chính sách và các giải pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.

Thứ hai, các doanh nghiệp Việt Nam phải chủ động và tăng cường hơn nữa khả năng tận dụng các ưu đãi trong các hiệp định kinh tế thương mại mà Chính phủ đã ký kết thời gian qua. Doanh nghiệp cũng phải chấp nhận cạnh tranh và tìm cách vươn lên trong cạnh tranh, bao gồm cả việc liên kết giữa các doanh nghiệp trong nước và kết nối với bên ngoài. Trong quá trình này, các doanh nghiệp Việt Nam, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, phải tăng cường năng lực quản trị doanh nghiệp, đổi mới phương thức kinh doanh, tăng cường đổi mới công nghệ, chủ động ứng phó với các rủi ro.

Cuối cùng, doanh nghiệp phải đồng hành với Chính phủ và biết đối thoại pháp lý để đối phó với những rào cản thương mại mới, đặc biệt là các hàng rào phi thuế quan trong quá trình hội nhập. Hỗ trợ của Chính phủ sẽ thiếu ý nghĩa nếu bản thân doanh nghiệp cũng chưa nhận thức đầy đủ, đúng đắn về nhu cầu, khó khăn và thách thức của mình trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng.

Trần Tuấn Anh, Bộ trưởng Bộ Công thương

Phó trưởng ban Chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế .