World Bank: Việt Nam đang ở vị thế vững vàng để vượt qua khủng hoảng kinh tế do Covid-19 gây ra

18

Dù vẫn có nguy cơ đáng kể với đại dịch Covid-19 và những xáo trộn hiện nay trên thị trường tài chính toàn cầu, song nền kinh tế Việt Nam vẫn tạm thời đứng vững trước các cú sốc bên ngoài trong những tháng đầu năm 2020.

Trong trung hạn, WB dự báo, tăng trưởng kinh tế sẽ lên đến 7,5% trong năm 2021.

Đó là nhận định của Ngân hàng Thế giới World Bank (WB) tại Việt Nam trong buổi họp báo trực tuyến chiều 31/3 công bố Báo cáo cập nhật kinh tế Đông Á và Thái Bình Dương số tháng 4/2020 với tiêu đề “Đông Á và Thái Bình Dương thời Covid-19”.

Theo WB, kinh tế Việt Nam triển vọng trung hạn nhìn chung thuận lợi, nhưng đang xuất hiện nhiều rủi ro theo hướng suy giảm, gắn với tác động bất lợi lớn kéo dài của dịch Covid-19, sức cầu bên ngoài yếu đi và những cải cách cơ cấu chưa hoàn tất. Nhìn theo hướng tích cực, Việt Nam đang có vị thế vững chắc để hưởng lợi từ nhiều hiệp định thương mại tự do sắp có hiệu lực trong giai đoạn tới.

Lợi thế về dư địa chính sách

Theo đánh giá của WB, trong điều kiện hội nhập sâu với nền kinh tế toàn cầu, Việt Nam bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch Covid-19. Các ngành chế tạo chế biến, du lịch và vận tải suy giảm đột ngột trong hai tháng đầu năm 2020. Việt Nam đã bắt đầu “nếm đòn” từ sự biến động khôn lường của nền tài chính toàn cầu như giá cổ phiếu tụt dốc, độ rủi ro tín nhiệm quốc gia tăng lên và dòng vốn đầu tư suy giảm.

Dù vậy, WB nhận thấy, nền kinh tế Việt Nam vẫn đứng vững. Trong hai tháng đầu năm, xuất khẩu tăng trưởng 8%, dòng vốn FDI đổ vào lên đến 2,5 tỷ USD, ngành bán lẻ tăng trưởng 5,4%. Với dư địa chính sách trong tay, Việt Nam đang ở vị thế vững vàng để vượt qua khủng hoảng về y tế và kinh tế đang diễn ra.

Năm 2019, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục thể hiện thế mạnh căn bản và khả năng chống chịu, nhờ vào sức cầu vững vàng trong nước và nền sản xuất chế tạo và chế biến định hướng xuất khẩu. Dữ liệu sơ bộ cho thấy, tăng trưởng GDP theo giá so sánh đạt khoảng 7% năm 2019, gần với tỷ lệ báo cáo cho năm 2018, là quốc gia có tăng trưởng cao nhất trong khu vực. Tăng trưởng ở các ngành công nghiệp (đặc biệt là chế tạo chế biến) và dịch vụ đẩy mạnh cầu lao động, tạo ra 1,8 triệu việc làm hưởng lương giai đoạn 2016-2018, kéo lao động thoát nông và giúp tăng mức thu nhập từ lương cho các công việc trong ngành phi nông nghiệp. Đó là nguyên nhân chính khiến tỷ lệ giảm nghèo giảm từ 9,7% (năm 2016) xuống còn 6,7% (năm 2018).

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) toàn phần sau khi chững lại trong ba quý đầu năm 2019 đã tăng lên chủ yếu do tăng giá thực phẩm vào quý cuối năm. Trong hai tháng đầu năm 2020, áp lực lạm phát vẫn tồn tại do giá lương thực và thực phẩm ở mức cao dịp cuối năm kết hợp với khả năng hàng hóa thiếu hụt do những biện pháp hạn chế thương mại nhằm ứng phó dịch Covid-19.

Chính sách tiền tệ của Việt Nam tiếp tục phải cân đối giữa hai mục tiêu, vừa duy trì ổn định vừa hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Sau những tháng áp dụng chính sách tiền tệ cẩn trọng, Ngân hàng Nhà nước bắt đầu nới nhẹ chính sách vào tháng 9/2019. Thậm chí trong những tuần vừa qua, Ngân hàng Nhà nước còn cắt giảm lãi suất chính sách 100 điểm cơ bản đồng thời cho phép các ngân hàng thương mại tái cơ cấu thời hạn vay cho các doanh nghiệp bị ảnh hưởng nhằm ứng phó với khủng hoảng dịch bệnh.

Cán cân kinh tế đối ngoại của Việt Nam tiếp tục được cải thiện trong năm 2019. Mặc dù thương mại toàn cầu đang diễn biến bất định, Việt Nam vẫn công bố thặng dư tài khoản vãng lai trong năm thứ hai liên tiếp. Xuất khẩu của Việt Nam tăng khoảng 8% trong đầu năm 2020, càng khẳng định khả năng chống chịu trong điều kiện tình hình kinh tế bên ngoài ngày càng bất lợi. Tài khoản vốn vẫn thặng dư lớn nhờ dòng vốn FDI được duy trì ở mức cao, dẫn đến dự trữ ngoại hối được tích lũy nhiều hơn, tăng từ mức tương đương 2,8 tháng nhập khẩu cuối năm 2019 lên 3,5 tháng vào cuối năm 2019. Đồng thời, tỷ giá danh nghĩa và thực tế đều tương đối ổn định trong suốt năm 2019 và đầu năm 2020.

Thực hiện chính sách củng cố tình hình tài khóa từ năm 2016, tổng bội chi ngân sách giảm từ 4,4% GDP năm 2018 xuống còn 4,0% năm 2019. Kết quả là nợ công của Việt Nam tiếp tục giảm so với GDP, từ 59,6% năm 2016 xuống còn khoảng 54% vào cuối năm 2019.

Tăng trưởng kinh tế có thể lên tới 7,5%

Mặc dù viễn cảnh nền kinh tế Việt Nam vẫn thuận lợi trong trung hạn, nhưng tăng trưởng GDP sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực do đại dịch Covid-19. Theo ước tính sơ bộ của WB, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế có thể giảm còn khoảng 4,9% năm 2020. Du lịch, chế tạo và chế biến là các ngành chịu tác động tiêu cực nhất của dịch bệnh này. Bên cạnh đó, áp lực lạm phát dự báo sẽ tăng lên tạm thời, phản ánh bất định về giá lương thực, thực phẩm và nhiên liệu, cũng như khả năng bị gián đoạn thương mại.

WB cho rằng, vị thế kinh tế đối ngoại được dự báo sẽ xấu đi trong năm 2020 chủ yếu do suy giảm về xuất khẩu dịch vụ và dòng vốn FDI đổ vào ít hơn. Bội chi ngân sách tạm thời tăng lên trong năm 2020 do thu ngân sách thấp hơn và do triển khai gói kích cầu tài khóa nhằm phần nào bù đắp tác động tiêu cực của đại dịch toàn cầu với nền kinh tế Việt Nam. Nỗ lực củng cố tình hình tài khóa dự kiến sẽ tiếp diễn từ năm 2021 trở đi, qua đó tiếp tục làm giảm tỷ lệ nợ công trên GDP.

Trong ngắn hạn, dịch Covid-19 có thể tạo tác động bất lợi cho nền kinh tế Việt Nam, nhất là trong các ngành du lịch, chế tạo và chế biến hiện phụ thuộc nhiều vào nền kinh tế toàn cầu. Tác động ngắn hạn đến nền kinh tế Việt Nam có thể lớn nhưng không kéo dài nếu như dịch bệnh được kiềm chế nhanh chóng. Những rủi ro khác trong ngắn hạn là hoạt động kinh tế và dòng chảy thương mại toàn cầu tiếp tục suy giảm do Việt Nam là một trong những nền kinh tế mở cửa nhất hiện nay trên thế giới.

Trong trung hạn, WB dự báo, tăng trưởng kinh tế sẽ lên đến 7,5% trong năm 2021 và khoảng 6,5% năm 2022 nhờ sức cầu bên ngoài được cải thiện, ngành dịch vụ được củng cố và sản xuất nông nghiệp dần được khôi phục. “Nhiều kỳ vọng tăng trưởng kinh tế Việt Nam sẽ phục hồi và đi lên sau đại dịch Covid-19. Tỷ lệ nghèo sẽ tiếp tục giảm hơn nữa, các điều kiện thị trường lao động dự kiến tiếp tục thuận lợi”, WB khẳng định.

WB cho rằng, thời gian tới, Việt Nam có thể quản lý được những rủi ro bên ngoài bằng cách đa dạng hóa thị trường thương mại và cải thiện năng lực cạnh tranh. Việc tuân thủ theo các hiệp định thương mại thế hệ mới, ví dụ như Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVTFA) là cách để Việt Nam hỗ trợ cho nỗ lực đó.

Gia Thành