Năng suất lao động Việt Nam thay đổi thế nào trong quá trình hội nhập quốc tế

981
Cần phải hiểu rõ hơn thị trường lao động để lý giải chất lượng nguồn nhân lực và năng suất tại Việt Nam. (Ảnh MH)

Viện nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) phối hợp với Viện Friedrich Naumann Foundation (FNF) Việt Nam vừa chính thức công bố Báo cáo Thường niên Kinh tế Việt Nam năm 2018 với tựa đề Hiểu thị trường lao động để tăng năng suất. Báo cáo tập trung vào chủ đề tăng năng suất của Việt Nam trong bối cảnh quốc tế, với quan điểm cho rằng cần phải hiểu rõ hơn thị trường lao động để lý giải chất lượng nguồn nhân lực và năng suất tại Việt Nam.

Vì thế, ngoài hai Chương đầu tiên nhận định tình hình kinh tế thế giới và kinh tế Việt Nam, bốn Chương tiếp theo đã đi sâu đánh giá một số khía cạnh trên thị trường lao động cũng như năng suất của Việt Nam, bao gồm: Phân tích diễn tiến của năng suất lao động của Việt Nam từ cấp độ tổng thể đến cấp độ ngành, sau đó xem xét vị trí của Việt Nam trong tương quan so sánh với một số quốc gia Đông Bắc Á và ASEAN ở cả hai cấp độ trên; Phân tích chính sách lương tối thiểu hiện tại của Việt Nam, tìm hiểu mối quan hệ giữa lương tối thiểu, lương trung bình và năng suất lao động, đồng thời đánh giá tác động của việc điều chỉnh lương tối thiểu đối với nền kinh tế; Nghiên cứu về xu hướng tham gia thị trường lao động tại Việt Nam, loại việc làm và các nhân tố tác động tới hành vi của giới trẻ.

Ngành Khai khoáng có NSLĐ cao nhất?

Theo kết quả nghiên cứu, trong 10 năm từ 2006 đến 2017, NSLĐ bình quân của Việt Nam đã tăng từ 38,64 triệu đồng/lao động lên mức 60,73 triệu đồng/lao động, với sự biến thiên đáng kể của tốc độ tăng trưởng qua các năm. Trong giai đoạn 2006-2012, tốc độ tăng trưởng NSLĐ của Việt Nam giảm từ 4,05% (2006) xuống còn 3,06% (2012), tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 3,29%/năm.

Năng suất lao động Việt Nam thuộc hàng thấp nhất trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. (Nguồn: WB)

Giai đoạn 2012-2017, NSLĐ bình quân của toàn nền kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ với tốc độ bình quân 5,3%/năm và tăng trưởng cao nhất vào năm 2015 với tốc độ 6.49%. Nhìn chung, giá trị NSLĐ tổng hợp có xu hướng tăng với tốc độ khá nhanh qua các năm. Tính trung bình trong giai đoạn 2008-2016, các ngành kinh tế có NSLĐ ở mức cao là các ngành “Khai khoáng, Sản xuất và phân phối điện, khí”, “Hoạt động tài chính ngân hàng và bảo hiểm”, “Hoạt động chuyên môn khoa học và công nghệ”, “Hoạt động kinh doanh bất động sản”, “Cung cấp nước”. Ngành “Công nghiệp chế biến chế tạo” có NSLĐ chưa cao và ngành “Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản” vẫn nằm trong số các ngành có mức NSLĐ thấp nhất nền kinh tế.

Theo phương pháp hạch toán tăng trưởng, tốc độ tăng trưởng NSLĐ được phân rã thành tốc độ tăng mật độ vốn (trang bị vốn trên một lao động) và tăng năng suất nhân tố tổng hợp (TFP). Kết quả tính toán cho thấy TFP đóng vai trò ngày càng quan trọng trong tăng trưởng NSLĐ bình quân của Việt Nam.

Sự giảm sút trong tốc độ tăng trưởng TFP là nguyên nhân chủ yếu kéo tụt tốc độ tăng trưởng NSLĐ trong giai đoạn 2008-2009. Với tốc độ tăng trưởng TFP lần lượt là 0,3% và 0,24%, TFP chỉ đóng góp lần lượt 10,51% và 9,26% vào tốc độ tăng trưởng NSLĐ bình quân của năm 2008 và 2009. Nếu như giai đoạn 2006-2012, TFP đóng góp vào tăng trưởng NSLĐ bình quân của Việt Nam với tỷ lệ bình quân 37,05%/năm thì con số này đã tăng lên 58,59%/năm trong giai đoạn 2012-2017, phản ánh vai trò ngày càng quan trọng của TFP trong tăng trưởng NSLĐ bình quân của Việt Nam.

Trong khi đó, với các phương pháp phân tích chuyển dịch cơ cấu phân rã tăng trưởng NSLĐ thành hiệu ứng nội ngành (năng suất tăng lên trong nội bộ ngành), hiệu ứng chuyển dịch (lao động di chuyển từ ngành có năng suất thấp lên ngành cao hơn) và hiệu ứng tương tác (thay đổi năng suất của mỗi ngành do thay đổi quy mô lao động) cho thấy các đặc điểm sau.

Xét chung trong tổng thể nền kinh tế, trong giai đoạn 2008-2016, NSLĐ đã tăng thêm 22,5%. Hiệu ứng nội ngành và hiệu ứng dịch chuyển thúc đẩy tăng trưởng NSLĐ trong khi hiệu ứng tương tác làm giảm tăng trưởng NSLĐ. Hiệu ứng dịch chuyển cơ cấu giúp thúc đẩy tăng trưởng NSLĐ nhiều hơn so với hiệu ứng nội ngành. Hiệu ứng tương tác đóng góp âm thể hiện sự dịch chuyển ồ ạt của lao động khỏi các ngành có ngành suất thấp (nông nghiệp) sang các ngành có NSLĐ cao hơn đã khiến chính những ngành có năng suất cao bị giảm năng suất (nhưng vẫn cao hơn các ngành khác).

Cần những cải cách mạnh mẽ, nếu không muốn tụt hậu

Trên đây là vấn đề phổ biến với hầu hết các nước Châu Á trong nửa thế kỷ qua. Chỉ riêng Trung Quốc là quốc gia duy nhất trong nhóm nước nghiên cứu duy trì được hiệu ứng tương tác dương trong các thời kỳ khảo sát. Trên phương diện so sánh quốc tế, NSLĐ của Việt Nam được đặt trong mối tương quan với các nước Đông Bắc Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc) và ASEAN (Singapore, Thái Lan, Malaysia, Philippines, Indonesia, Campuchia). Kết quả cho thấy, tới 2015, NSLĐ củanhóm ngành của Việt Nam đều ở mức gần hoặc thấp nhất trong các nước kể trên.

NSLĐ của Việt Nam thấp nhất trong các nước so sánh, kể cả Campuchia, ở ba ngành sau: “Công nghiệp chế biến chế tạo”, “Xây dựng”, “Vận tải, kho bãi, truyền thông”. NSLĐ của Việt Nam xếp gần cuối, chỉ cao hơn Campuchia ở các nhóm ngành: “Nông nghiệp,” “Điện, nước, khí đốt”, “Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa”.

Ngược lại, Việt Nam có NSLĐ cao hơn một số nước trong ba nhóm ngành: “Khai mỏ và khai khoáng”, “Tài chính, bất động sản và dịch vụ văn phòng”, “Dịch vụ cộng đồng, xã hội, cá nhân”. Phân tích chuyển dịch cơ cấu cho thấy, hiệu ứng nội ngành đóng vai trò chủ đạo trong tăng trưởng NSLĐ ở các nước Đông Á và Singapore trong khi hiệu ứng chuyển dịch vẫn đóng góp một phần lớn vào tăng trưởng NSLĐ ở các nước đang phát triển thuộc nhóm ASEAN (gồm cả Việt Nam).

Tuy nhiên, mức độ đóng góp của hiệu ứng nội ngành ở Việt Nam đang có xu hướng tăng lên. Nhằm cải thiện NSLĐ của Việt Nam, Việt Nam cần tiếp tục tạo điều kiện tích cực để thúc đẩy tăng trưởng TFP cũng như cần có chính sách đào tạo và nâng cao tri thức, kỹ năng cho người lao động, chính sách khuyến khích đổi mới, sáng tạo về cải tiến kỹ thuật trong sản xuất, áp dụng công nghệ để nâng cao NSLĐ trong các ngành, đồng thời đầu tư thêm vào việc nghiên cứu cải tiến công nghệ và mua các công nghệ từ nước ngoài trong trường hợp cần thiết.

Nếu không muốn bị vượt qua bởi các quốc gia láng giềng như Campuchia về NSLĐ nói riêng và tăng trưởng kinh tế nói chung, Việt Nam cần có những cải cách mạnh mẽ hơn để cải thiện NSLĐ của các ngành kinh tế. Đồng thời, phát triển thị trường lao động cùng các chính sách liên quan nhằm thúc đẩy quá trình dịch chuyển lao động theo đúng nhu cầu dịch chuyển cơ cấu. Bên cạnh đó, nhóm ngành Công nghiệp (chế biến chế tạo) và Dịch vụ cần được chú trọng nhiều hơn nữa về cải thiện môi trường kinh doanh và thay đổi công nghệ, nhằm tạo động lực bền vững cho sự cải thiện năng suất chung

Hiểu thị trường lao động để tăng năng suất

Nghiên cứu còn chỉ ra mối liên hệ giữa lương tối thiểu, lương bình quân và năng suất lao động. Đây cũng là chủ đề của các cuộc thảo luận chính sách trong những năm gần đây. Một mặt, đại diện của các công đoàn cho rằng mức lương tối thiểu hiện tại được đặt dưới mức tối thiểu của người lao động và do đó tăng lương tối thiểu nhanh hơn là điều thiết yếu để cải thiện mức sống của họ.

Việt Nam cần có những cải cách mạnh mẽ hơn để cải thiện NSLĐ của các ngành kinh tế, nếu không muốn tụt hậu so với các quốc gia láng giềng.

Mặt khác, tốc độ tăng trưởng của lương tối thiểu và lương trung bình, nếu vượt quá tốc độ tăng năng suất lao động, sẽ dần dần nhưng nghiêm trọng phá vỡ sự cân bằng của nền kinh tế về nhiều mặt, đặc biệt là cản trở sự tích tụ vốn con người, làm giảm động lực của các nhà đầu tư, lợi nhuận của doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế.

Phân tích và đánh giá những xu hướng gần đây về lương tối thiểu, lương trung bình và năng suất lao động ở Việt Nam; đồng thời xem xét tác động của việc tăng lương tối thiểu lên lương trung bình và các hành vi khác của doanh nghiệp bao gồm việc làm, tỷ suất lợi nhuận và đầu tư máy móc, Nghiên cứu cho thấy, mặc dù các doanh nghiệp Việt Nam đạt được tăng trưởng năng suất tương đối cao trong nửa cuối những năm 2000, tốc độ tăng trưởng lương trung bình (6,7%) nhìn chung vượt quá tốc độ tăng năng suất lao động (5%) trong giai đoạn 2004-2015 (đặc biệt sau năm 2009).

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, mối liên hệ giữa mức lương bình quân và năng suất lao động thay đổi theo thời gian, theo loại hình sở hữu doanh nghiệp, và theo ngành kinh tế. Cụ thể, mặc dù lương trung bình đã tăng chậm hơn mức tăng năng suất lao động trong hầu hết những năm 2000, nhưng xu hướng này đã không còn nữa trong giai đoạn 2009-2012.

Theo loại hình sở hữu, tăng trưởng tiền lương đã vượt mức tăng trưởng năng suất của các doanh nghiệp FDI, nhưng thấp hơn mức tăng năng suất của các doanh nghiệp nhà nước. Đối với các doanh nghiệp tư nhân, tăng trưởng lương trung bình gần với năng suất lao động.

Xét theo ngành kinh tế, tăng trưởng tiền lương có xu hướng vượt quá mức tăng năng suất lao động trong các ngành có năng suất tăng trưởng thấp, như khai thác mỏ, bưu điện và viễn thông và vận tải. Đối với các ngành phục vụ tiện ích công cộng (nước và điện), tốc độ tăng lương lại thấp hơn tốc độ tăng năng suất. Tăng trưởng tiền lương gần như bằng tăng trưởng năng suất trong các ngành sản xuất, thương mại và xây dựng.

Việc tiền lương tăng nhanh hơn tăng trưởng năng suất lao động nhìn chung làm giảm tỷ lệ lợi nhuận, kéo lùi tốc độ tích lũy vốn của khu vực doanh nghiệp, và tương ứng với đó là mức tạo việc làm. Đồng thời, sức cạnh tranh của nền kinh tế giảm cả trên phương diện thị trường lao động và của khu vực doanh nghiệp nội địa.

Về tác động của việc điều chỉnh lương tối thiểu, việc tăng lương tối thiểu nhìn chung dẫn đến tăng lương trung bình và giảm việc làm cũng như giảm tỷ suất lợi nhuận. Tuy nhiên, những ảnh hưởng này có khác biệt đáng kể giữa các thành phần kinh tế (loại hình sở hữu), phản ánh sự khác biệt về quy mô của thị trường lao động và khả năng tài chính và công nghệ của doanh nghiệp nhằm đối phó với các chi phí lao động tăng.

Nói chung doanh nghiệp tư nhân có khuynh hướng cắt giảm lao động chính thức (có đóng bảo hiểm) để đối phó khi lương tối thiểu tăng. Ngoài ra, phân tích ở cấp độ doanh nghiệp với trọng tâm là các doanh nghiệp tư nhân và FDI trong các ngành sản xuất cho thấy việc tăng lương tối thiểu làm giảm tốc độ tăng trưởng việc làm trong tất cả các ngành. Doanh nghiệp có quy mô lớn hơn (thể hiện qua số lượng lao động nhiều hơn) giảm tăng trưởng việc làm nhiều hơn.

Bên cạnh đó, khi lương tối thiểu tăng, các ngành công nghiệp thâm dụng lao động như dệt may, sản phẩm gỗ và đồ nội thất có xu hướng thay thế lao động bằng máy móc. Điều đó phù hợp với khuynh hướng cơ giới hóa ở các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành chế tác thâm dụng lao động dưới sức ép chi phí lao động tăng. Tuy nhiên, một số ngành công nghiệp thâm dụng vốn như điện tử và sản xuất máy móc lại giảm đầu tư máy móc, cho thấy khả năng có thể nhà đầu tư lo ngại giá lao động tăng trong dài hạn có thể khiến các ngành này mất sức cạnh tranh và do đó đã bắt đầu thoái lui đầu tư.

Nguyễn Minh