Hậu quả lâu dài của dịch Covid-19 đối với kinh tế thế giới

16

Báo NZZ có bài phân tích về hậu quả lâu dài của dịch Covid-19 đối với kinh tế thế giới. Bài báo nhận định chưa có một cuộc khủng hoảng kinh tế nào lại tác động đến thế giới một cách đầy bất ngờ và khốc liệt như Covid-19. Chỉ trong một thời gian ngắn, đại dịch này đã làm tê liệt một phần lớn nền kinh tế toàn cầu. Theo OECD, mỗi nền kinh tế điển hình trên thế giới được dự báo sẽ chịu tổn thất về sản xuất ở mức 25%. Gần đây, chính phủ và ngân hàng trung ương các nước đã thực thi nhiều biện pháp kích thích kinh tế chưa từng có trong lịch sử nhằm giảm thiểu thiệt hại trước mắt của Covid-19. Tuy nhiên, đại dịch này sẽ còn để lại nhiều hệ lâu dài quả đối với kinh tế thế giới.

Trước hết là sự suy giảm thương mại toàn cầu. Cú sốc đại dịch đã làm hé lộ điểm yếu lớn về cơ cấu của hệ thống kinh tế thế giới vận hành trên cơ sở dự trữ hàng tồn kho ở mức tối thiểu, các  chuỗi cung ứng phức tạp và giả định rằng nhu cầu đối với mọi hàng hoá sẽ được đáp ứng nhanh chóng mọi lúc mọi nơi, tính hiệu quả và tốc độ được ưu tiên cao hơn sự năng động. Sự tối ưu hoá quá mức này đã và đang phải trả giá đắt. Sản xuất dư thừa làm gia tăng chi phí sản xuất nhưng đồng thời cũng giúp mở rộng quy mô của hành động và biên độ an toàn trong tình huống khẩn cấp. Ở Mỹ và châu Âu, nơi các công ty dược toàn cầu phải làm việc ở nhà, người dân bất ngờ nhận ra rằng nhiều thiết bị y tế và thuốc men như khẩu trang y tế hay thuốc kháng sinh phần lớn được sản xuất ở Trung Quốc. Có tới 97% thuốc kháng sinh sử dụng ở Mỹ được sản xuất ở Trung Quốc, theo một nghiên cứu của Bộ Thương mại Hoa Kỳ. Nhiều hàng hoá thiết yếu không còn có sẵn khi Vũ Hán bị phong toả. Nhiều doanh nghiệp và nhà quản lý giờ cay đắng nhận ra rằng các chuỗi cung ứng phức tạp có thể bảo đảm khả năng sinh lời tối đa khi mọi thứ diễn ra thuận lợi, nhưng chúng cũng có thể trở thành một mối đe doạ đối với sự tồn tại của doanh nghiệp trong thời điểm khủng hoảng. Hệ quả là phân công lao động quốc tế có thể sẽ  giảm trong thời gian tới đây. Hoạt động sản xuất thay vì “hướng ngoại” sẽ có xu hướng “hướng nội” khi các nhà quản lý tính đến chi phí của những nút thắt trong phân phối hàng hoá. Nhiều doanh nghiệp sẽ tìm kiếm ít nhất một nguồn cung nguyên vật liệu sản xuất thay thế và có thể gia tăng sản xuất trong nước, bởi không thể trông cậy ở hàng hoá nhập khẩu nếu nguồn cung bị gián đoạn.

Thứ hai, niềm tin vào sự tối ưu hoá không chỉ ảnh hưởng đến các chuỗi cung ứng. Covid-19 sẽ khiến các doanh nghiệp có cách tiếp cận thận trọng hơn trong chiến lược phát triển của mình. Sự hậu thuẫn tài chính ồ ạt trong thời gian qua khiến doanh nghiệp tăng tốc vay nợ giá rẻ để  để mua lại cổ phần với hy vọng lãi suất thấp giúp tối đa hoá lợi nhuận từ việc đầu tư cổ phần. Tuy nhiên, khi dòng tiền bị cắt đứt thì đây không còn là chiến lược khôn ngoan nữa. Một ví dụ điển hình là tập đoàn Boeing đã bỏ ra 43 tỉ USD mua lại cổ phần công ty trong vòng sáu năm qua, và tháng Ba vừa rồi đã phải vận động hành lang  chính phủ Mỹ thông qua gói viện trợ trị giá 60 tỉ USD cho ngành công nghiệp hàng không. Trong thời gian tới, các doanh nghiệp sẽ phải củng cố tiềm lực tài chính thực của mình để có sự chuẩn bị tốt hơn nhằm ứng phó với một tương lai khó đoán định. Xu hướng “chuẩn bị nguồn cung cho tình huống khẩn cấp” sẽ phát triển không chỉ trong giới doanh nghiệp mà trong cả các hộ gia đình.

Thứ ba là sự gia tăng tầm quan trọng của chính sách công nghiệp quốc gia và sự suy giảm của toàn cầu hoá. Với việc thực hiện chiến lược “Sản xuất ở Trung Quốc 2025”, Trung Quốc đang phấn đấu trở thành quốc gia hàng đầu trong mười lĩnh vực thiết yếu bao gồm trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học và xe điện. Nhà nước Trung Quốc đang tài trợ hàng tỉ USD cho doanh nghiệp nhằm thực hiện mục tiêu này. Trong thời gian tới nhiều quốc gia trên thế giới sẽ áp dụng mô hình này của Trung Quốc. Ngoài ra, với lý do độc lập kinh tế và an ninh quốc gia, các quốc gia trên thực tế sẽ thúc đẩy một cách có hệ thống các doanh nghiệp hoạt động trong những lĩnh vực thiết yếu. Điều này đi đôi với sự gia tăng ảnh hưởng của nhà nước đối với nền kinh tế. Sự chỉ trích toàn cầu hoá đã lan rộng trước khi xảy ra đại dịch Covid-19, việc Tổng thống Trump đắc cử ở Mỹ và nước Anh rời khỏi Liên minh châu Âu là những ví dụ điển hình. Với Covid-19, xu hướng rút lui khỏi toàn cầu hoá rất có thể sẽ lan rộng.

Thứ tư là sự gia tăng nguy cơ lạm phát kinh tế về dài hạn và gia tăng nợ toàn cầu. Sự giảm sút phân công lao động quốc tế, dù chỉ diễn ra ở từng công đoạn sản xuất, có thể dẫn đến chi phí sản xuất và giá cả cao hơn. Toàn cầu hoá là một trong những nguyên nhân chính của tình trạng thiểu phát trong những năm gần đây, với việc dịch chuyển sản xuất từ các nước công nghiệp hoá sang các nền kinh tế mới nổi có chi phí nhân công thấp đã giúp các tập đoàn đa quốc gia duy trì chi phí sản xuất thấp. Sự đảo chiều xu hướng này chắc chắn sẽ làm giá tăng giá cả và suy giảm sự thịnh vượng. Đi đôi với sự gia tăng ảnh hưởng của nhà nước đối với nền kinh tế là sự gia tăng nợ toàn cầu. Nhiều quốc gia đang thực thi các gói kích thích kinh tế lớn nhất từ trước đến nay với quy mô vượt các gói cứu trợ trong khủng hoảng kinh tế 2008/2009. Trong khi đó, các doanh nghiệp có khả năng phải chịu sụt giảm lợi nhuận về lâu về dài do tác động của các biện pháp hạn chế và mức cầu giảm. Theo Viện Tài chính quốc tế, mức dư nợ toàn cầu đã xấp xỉ 260 nghìn tỉ USD vào đầu năm nay, chiếm hơn 320% GDP toàn cầu hàng năm. Các yếu tố khác góp phần duy trì mức nợ cao trong dài hạn bao gồm tăng trưởng dân số yếu đi, năng suất lao động thấp, già hoá dân số, chi phí y tế và lương hưu tăng.

Thứ năm, xu hướng số hoá mới nổi lên gần đây cũng sẽ lan rộng trong những năm tới. Sự dịch chuyển hoạt động mua sắm từ tại siêu thị đến trực tuyến đang phát triển những  trước hạn chế đi lại do dịch bệnh. Thói quen mua sắm trực tuyến tất cả các loại hàng hoá sẽ phát triển về dài hạn ngay cả sau khi dịch Covid-19 kết thúc. Các doanh nghiệp sẽ tăng cường đầu tư vào công nghệ số hoá và tự động hoá, khiến cho hoạt động mua sắm, tiêu dùng trực tuyến thuận lợi và có hệ thống hơn. Xu hướng sử dụng robot trong sản xuất thay thế con người cũng sẽ gia tăng nhằm giảm tác động của bệnh dịch và các biện pháp hạn chế đi lại đối với hoạt động sản xuất. Thậm chí, những thay đổi hành vi xã hội do bệnh dịch sẽ không biến mất ngay lập tức mà có thể sẽ kéo dài một thời gian như giãn cách xã hội, thói quen đi ăn nhà hàng, thói quen đi du lịch hay tụ tập đông người./.

(Đại sứ quán Việt Nam tại Liên bang Thụy Sĩ)