Định hướng thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài trong thời gian tới

22

Trong 30 năm qua, việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận. Khu vực ĐTNN ngày càng phát triển, trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân và đóng góp đáng kể cho công cuộc phát triển kinh tế-xã hôi của đất nước. Bài nghiên cứu sẽ đưa ra những nhận định, đánh giá về đóng góp của khu vực ĐTNN đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam và đề xuất giải pháp để thu hút, sử dụng hiệu quả hơn nữa nguồn vốn này trong thời gian tới.
1. Một số thành tựu trong thu hút và sử dụng ĐTNN giai đoạn 1988-2017
Tính đến tháng 8/2018, đã có 26.876 dự án đầu tư nước ngoài (ĐTNN) hoạt động tại Việt Nam của các nhà đầu tư đến từ 129 quốc gia và vùng lãnh thổ, với tổng vốn cam kết 336,2 tỷ USD, trong đó khoảng 187,4 tỷ USD đã thực hiện. ĐTNN đã có mặt tại tất cả tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong cả nước và trong hầu hết các ngành kinh tế. ĐTNN đã góp phần tích cực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hình thành một số ngành công nghiệp mũi nhọn, gia tăng năng lực sản xuất và đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Chủ trương khuyến khích ĐTNN hướng vào xuất khẩu đã tạo thuận lợi cho Việt Nam mở rộng thị trường quốc tế, từng bước tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu; gia tăng kim ngạch xuất khẩu, góp phần quan trọng làm cân bằng cán cân thương mại, giảm áp lực tỷ giá, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế. Nhiều dự án ĐTNN đã chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lý tiên tiến ở một số ngành, lĩnh vực; tác động lan tỏa nhất định tới khu vực doanh nghiệp trong nước, qua đó góp phần nâng cao trình độ công nghệ và quản trị của nền kinh tế.
ĐTNN cũng đóng góp đáng kể cho nguồn thu ngân sách nhà nước, tạo việc làm, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, cải thiện chất lượng nguồn nhân lực và nâng cao năng suất lao động của nền kinh tế. Khu vực ĐTNN hiện đã trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tỷ trọng vốn ĐTNN trong tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tăng từ gần 15% năm 2005 lên 23,7% năm 2017. Đóng góp của ĐTNN vào tăng trưởng kinh tế ngày càng cao, giai đoạn 2010-2017 là 27,7%. Tỷ trọng trong GDP năm 2017 là 19,6%. Việc thu hút và sử dụng ĐTNN đã góp phần tích cực hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tăng cường quan hệ đối ngoại, hợp tác và hội nhập kinh tế của Việt Nam.
Những hạn chế, bất cập và nguyên nhân
Bên cạnh những thành tựu đạt được, ĐTNN thời gian qua cũng bộc lộ một số hạn chế, bất. Liên kết của khu vực đầu tư nước ngoài với khu vực trong nước chưa chặt chẽ và hiệu ứng lan tỏa năng suất chưa cao. Nhiều dự án ĐTNN tập trung vào công đoạn gia công, lắp ráp; tỷ lệ nội địa hóa trong một số ngành công nghiệp ở mức dưới trung bình; giá trị gia tăng trên một đơn vị sản phẩm thấp; tỷ lệ vốn thực hiện trên tổng vốn đăng ký còn hạn chế; thu hút và chuyển giao công nghệ từ khu vực ĐTNN chưa đạt hiệu quả như kỳ vọng. Đầu tư từ các tập đoàn xuyên quốc gia, ĐTNN vào một số ngành, lĩnh vực ưu tiên như kết cấu hạ tầng, nông nghiệp… chưa nhiều.
Một số doanh nghiệp có vốn ĐTNN chưa tuân thủ nghiêm túc quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, có trường hợp đã gây ra sự cố ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và cuộc sống của người dân cũng như sự phát triển bền vững của đất nước. Việc sử dụng đất đai và tài nguyên không tái tạo tại một số dự án ĐTNN còn lãng phí và kém hiệu quả. Một số doanh nghiệp có hành vi chuyển giá, thiếu trung thực trong báo cáo tài chính để báo lỗ và trốn thuế; chấp hành pháp luật về lao động chưa nghiêm, trong đó có việc sử dụng lao động nước ngoài. Tỷ lệ các cuộc đình công không theo trình tự pháp luật quy định và tranh chấp lao động trong khu vực ĐTNN có xu hướng gia tăng. Ngoài ra, một số địa phương chưa tính toán đầy đủ, cân nhắc cẩn trọng các yếu tố liên quan đến quốc phòng, an ninh khi thu hút các dự án ĐTNN.
Trong khi kết quả ĐTNN được tích lũy trong cả một quá trình, thì hạn chế của hoạt động này lại xảy ra có tính thời điểm, do những nguyên nhân khách quan và chủ quan, từ trình độ phát triển của kinh tế đất nước cho đến những bất cập của hệ thống luật phát chính sách, môi trường đầu tư kinh doanh, cũng như những bất cập trong công tác quản lý điều hành. Thực tiễn 30 năm thu hút và sử dụng ĐTNN cho thấy một số nguyên nhân như sau:
– Nhận thức về vị trí, vai trò của ĐTNN đối với phát triển kinh tế – xã hội chưa thật sự đầy đủ và thống nhất cao. Vẫn có một bộ phận tổ chức trong hệ thống chính trị ở các cấp, các ngành và chuyên gia còn quan ngại, thiếu đồng thuận về mức độ mở cửa cho ĐTNN, hoặc lấy lý do bảo vệ lợi ích ngành, địa phương dẫn đến ban hành những quy định, hồ sơ chưa phù hợp với ĐTNN. Ngoài ra, còn tồn tại quan điểm, nhận thức đơn giản, coi ĐTNN chỉ là một nguồn lực tài chính, một kênh thu hút công nghệ cao mà thiếu tư duy tổng thể về vị thế Việt Nam trong sự chuyển dịch của dòng đầu tư thế giới.
– Hệ thống kết cấu hạ tầng (đặc biệt là năng lực các đầu mối giao thông như cảng biển, cảng hàng không quốc tế và tính kết nối của mạng lưới giao thông đường bộ, đường biển, đường thủy nội địa, đường sắt… còn hạn chế), nguồn nhân lực, sự phát triển ngành công nghiệp phụ trợ và năng lực doanh nghiệp trong nước chưa đáp ứng yêu cầu thu hút các ngành công nghệ cao; khả năng liên kết giữa khu vực ĐTNN với khu vực doanh nghiệp trong nước còn yếu. Kết quả khảo sát của Tổ chức Phát triển Công nghiệp của Liên Hợp Quốc (UNIDO) năm 2015 cho thấy tỷ lệ sản phẩm đầu vào được mua từ các nhà chế biến chế tạo trong nước ở tất cả các loại hình doanh nghiệp ĐTNN tương đối thấp, khoảng 26,6%; khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho thấy doanh nghiệp ĐTNN chủ yếu sử dụng hàng hóa và dịch vụ trung gian của doanh nghiệp nước ngoài, chỉ 34% từ các doanh nghiệp tư nhân trong nước.
– Thể chế, chính sách và môi trường đầu tư, kinh doanh của Việt Nam vẫn chưa hấp dẫn nhà ĐTNN, đặc biệt từ các nước thành viên Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và các tập đoàn xuyên quốc gia. Nhà ĐTNN còn quan ngại về thực thi pháp luật, áp dụng nguyên tắc không hồi tố và giải quyết tranh chấp của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Không ít nhà đầu tư lo ngại về tính ổn định, tiên liệu cũng như tính minh bạch, công bằng, bình đẳng của chính sách pháp luật. Luật Doanh nghiệp được điều chỉnh với quy mô và mức độ cải cách trong nhiều ngành, lĩnh vực và sớm, trong khi một số luật khác chậm được điều chỉnh dẫn đến sự thiếu đồng bộ, tạo kẽ hở pháp lý và gây khó khăn trong quá trình thực hiện.
– Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước chưa cao, nhất là công tác quy hoạch, phân công, phân cấp, phối hợp quản lý, tổ chức bộ máy và năng lực cán bộ.
Bối cảnh quốc tế và trong nước và ảnh hưởng đến việc thu hút, sử dụng vốn ĐTNN tại Việt Nam
Bối cảnh kinh tế quốc tế, đặc biệt là dòng đầu tư quốc tế đang dịch chuyển theo các hướng thuận và không thuận đối với Việt Nam. Quy mô dòng ĐTNN toàn cầu có xu hướng giảm. Chiến tranh thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc có khả năng tác động đến điều chỉnh dòng đầu tư của Hoa Kỳ, EU từ Trung Quốc vào các nước khác, trong đó có Việt Nam. Trong khu vực, với sự tự do lưu chuyển vốn, hàng hóa, dịch vụ, lao động có kỹ năng, ta đang phải đối diện với áp lực cạnh tranh thu hút ĐTNN trong Cộng đồng Kinh tế ASEAN, trong khi năng lực cạnh tranh của Việt Nam còn khoảng cách khá xa so với một số nước trong khu vực.
Cách mạng công nghiệp 4.0 đang tác động mạnh mẽ đến đầu tư, sản xuất, kinh doanh, phát triển công nghệ, nguồn nhân lực… đặt ra thách thức rất lớn đối với thu hút và sử dụng ĐTNN. Đồng thời, cuộc cách mạng này cũng tạo cơ hội “đi tắt, đón đầu”, nắm bắt xu hướng mới trong dịch chuyển dòng đầu tư quốc tế, đầu tư thích đáng hoạt động đổi mới sáng tạo, nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và các ngành nghề mới. Ngoài ra, với sự trỗi dậy của chủ nghĩa bảo hộ và chống tự do hóa thương mại đa phương, việc Việt Nam tham gia sâu hơn vào mạng sản xuất, chuỗi giá trị toàn cầu và dựa vào nhập khẩu để xuất khẩu là hết sức khó khăn. Đồng thời, dòng ĐTNN vào Việt Nam thời gian tới sẽ phụ thuộc nhiều vào năng lực sản xuất trong nước do yêu cầu xuất xứ theo các hiệp định thương mại tự do.
Bối cảnh trong nước có nhiều điểm thuận và không thuận đan xen. Về mặt thuận lợi, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng kể về phát triển kinh tế-xã hội, trở thành nước có thu nhập trung bình, đang hoàn thiện nền kinh tế thị trường theo hướng đầy đủ, hiện đại, hội nhập quốc tế, đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng. Việt Nam đã và đang tham gia, ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA), đặc biệt là một số hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, quan trọng như Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA). Nếu việc gia nhập WTO được xem là bước hội nhập kinh tế quốc tế rộng lớn hơn thì 12 FTA, đặc biệt là CPTPP và EVFTA sẽ mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế của ta với các đối tác sâu sắc hơn, nhất là trong lĩnh vực thương mại dịch vụ, cũng như kích thích sự chuyển hướng các chuỗi giá trị khu vực. Việt Nam được xếp hạng cao về ổn định chính trị, tạo tâm lý yên tâm cho nhà đầu tư nước ngoài. Đồng thời ta nằm trong khu vực năng động, nằm trong khu vực có dòng ĐTNN gắn với di chuyển chuỗi cung ứng trong nội bộ khu vực ASEAN và Đông Á. Việt Nam cũng là nước đạt được kết quả thu hút và sử dụng ĐTNN khá ấn tượng trong khu vực (theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, xét theo chỉ số thu hút ĐTNN so với tỷ lệ GDP, Việt Nam được coi là nước thu hút ĐTNN có hiệu quả hơn so với các nước trong khu vực, chỉ đứng sau Singapore ).
Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng của ta vẫn còn dựa nhiều vào huy động vốn, lao động, khai thác tài nguyên. Thu nhập bình quân đầu người còn thấp so với thế giới (hơn 10.000USD/người), tốc độ già hóa dân số nhanh (dự báo sẽ kết thúc thời kỳ “dân số vàng” vào khoảng năm 2020-2025. Thị trường chưa phát triển đầy đủ, đồng bộ và chưa vận hành hiệu quả. Một số đối tác lớn (đặc biệt là Hoa Kỳ và EU) vẫn chưa công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường, làm ảnh hưởng khá lớn đến việc thu hút ĐTNN cũng như gia tăng những mặt hạn chế trong hoạt động của doanh nghiệp ĐTNN tại Việt Nam, điển hình là tận dụng lao động phổ thông, tài nguyên, các tiêu chuẩn môi trường dưới tiêu chuẩn, trách nhiệm xã hội khiêm tốn… Môi trường đầu tư kinh doanh của ta còn thiếu minh bạch, thiếu tính dự báo. Các nhân tố đầu vào sản xuất chưa được thị trường hóa. Chi phí tuân thủ và chi phí hoạt động khá cao thể hiện ở chỉ số xếp hạng thấp về hiệu quả hoạt động logistic (LPI) . Phát triển bền vững đòi hỏi phải xử lý, khắc phục những hệ lụy về môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Nền kinh tế Việt Nam có độ mở cao nên dễ bị tác động tiêu cực của các biến động về kinh tế-chính trị thế giới và khu vực.
 Một số khuyến nghị về định hướng thu hút ĐTNN giai đoạn tới
Việt Nam đang ở những năm cuối cùng thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2011-2020 và chuẩn bị xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2021-2030 với mục tiêu sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp hiện đại. Để thực hiện các mục tiêu phát triển và tạo ra động lực mới, thúc đẩy tăng trưởng dựa trên năng suất, vượt qua “bẫy chi phí lao động thấp”, “bẫy giá trị thấp”, “bẫy công nghệ thấp” và bẫy thu nhập trung bình”, Việt Nam nên thu hút và sử dụng ĐTNN gắn liền với đảm bảo chất lượng, hiệu quả và phát triển bền vững, khuyến khích đổi mới sáng tạo và liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp ĐTNN với doanh nghiệp trong nước. Cụ thể:
Về ngành, lĩnh vực: Ta nên tập trung ưu tiên thu hút ĐTNN vào các ngành, lĩnh vực công nghệ cao, tiên tiến, công nghệ thân thiện với môi trường, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; sản xuất thiết bị y tế, cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giáo dục và đào tạo, du lịch chất lượng cao, dịch vụ tài chính quốc tế, logistics và các dịch vụ hiện đại khác; sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp thông minh; phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật hiện đại, đặc biệt là các ngành nghề mới trên nền tảng công nghiệp 4.0 như internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo AI), phân tích dữ liệu lớn (SMAC), thực tế ảo (VR), tương tác thực tại ảo (AR), điện toán đám mây, kinh tế số…
Trong từng thời kỳ, Việt Nam nên lựa chọn một số ngành, lĩnh vực để tập trung nguồn lực, chủ động xúc tiến ĐTNN. Ngoài ra, ta nên định kỳ đánh giá kết quả thu hút và sử dụng theo các tiêu chí cụ thể để có điều chỉnh thích hợp. Việt Nam cũng nên chú ý đảm bảo hài hòa giữa tăng trưởng xuất khẩu với đầu tư phát triển sản phẩm, dịch vụ có giá trị gia tăng cao và sử dụng nguồn nguyên liệu nội địa, phát triển công nghiệp hỗ trợ, đào tạo nguồn nhân lực trong nước trong thu hút và sử dụng ĐTNN.
Việt Nam nên ưu tiên đẩy mạnh liên kết giữa nhà ĐTNN, doanh nghiệp có vốn ĐTNN, đặc biệt là các tập đoàn xuyên quốc gia (TNCs) với các doanh nghiệp trong nước để hình thành và phát triển cụm liên kết ngành theo chuỗi giá trị. Đồng thời, ta nên tiếp tục thu hút ĐTNN vào các ngành mà Việt nam đang có lợi thế như dệt may, da giày… nhưng ưu tiên tập trung vào các khâu tạo giá trị gia tăng cao, gắn với quy trình sản xuất thông minh, tự động hóa.
Về địa phương, vùng miền: Việc thu hút ĐTNN phải phù hợp với lợi thế, điều kiện, trình độ phát triển và quy hoạch của từng địa phương trong mối liên kết vùng, bảo đảm hiệu quả tổng thể kinh tế-xã hội-môi trường chung của vùng và cả nước, đặc biệt là hiệu quả sử dụng đất và các tài nguyên không tái tạo; nên thúc đẩy dịch chuyển cơ cấu đầu tư nước ngoài tại địa phương, vùng theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong nước. Không thu hút ĐTNN bằng mọi giá làm phá vỡ quy hoạch dự án có giá trị đầu tư trên một đơn vị diện tích đất thấp.
Đối với những địa phương có trình độ phát triển cao về kết cấu hạ tầng và nguồn nhân lực, tập trung thu hút các dự án công nghệ cao, tiên tiến, dịch vụ hiện đại, nghiên cứu và phát triển để hình thành trung tâm tài chính, công nghệ quốc gia và khu vực.
Đối với một số địa bàn có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, nên ưu tiên các dự án tạo ra giá trị gia tăng cao, gắn với quy trình sản xuất thông minh và tự động hóa, tạo điều kiện thu hút các dự án ĐTNN trong những ngành sử dụng lao động phổ thông, lắp ráp giản đơn trong một giai đoạn nhất định để góp phần giải quyết việc làm, phát triển kinh tế-xã hội; đồng thời xây dựng kế hoạch chuyển hướng thu hút ĐTNN sang ngành, lĩnh vực có giá trị gia tăng cao hơn.
Ta nên tạo ra động lực mới trong thu hút, sử dụng đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao, khu nông nghiệp công nghệ cao. Nghiên cứu, ban hành cơ chế, chính sách thu hút các nhà đầu tư chiến lược, tập đoàn đa quốc gia đầu tư vào các đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt được Quốc hội quyết định thành lập khi điều kiện chín muồi.
Về thị trường và đối tác: Việt Nam nên đa dạng hóa, đa phương hóa thu hút ĐTNN từ nhiều thị trường và đối tác. Ta nên khai thác có hiệu quả mối quan hệ với các đối tác hiện tại như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Hoa Kỳ, Đức… và các trung tâm tài chính quốc tế. Khai thác hiệu quả mối quan hệ với các đối tác chiến lược, trong đó chú trọng các nước phát triển, các nước G7 để chủ động thu hút các nhà đầu tư tiềm năng từ các quốc gia này đầu tư vào những dự án công nghệ cao, công nghệ mới, tiên tiến, dịch vụ hiện đại, có hiệu ứng lan tỏa cao trong nền kinh tế. Ta nên tận dụng lợi thế trong thị trường của Cộng đồng  Kinh tế ASEAN và cơ hội do các FTA tạo ra để thu hút ĐTNN.
Ta cũng nên chủ động theo dõi, đánh giá xu hướng dịch chuyển dòng ĐTNN và công nghệ lạc hậu, không thân thiện với môi trường vào Việt Nam từ một số nước trong khu vực để lựa chọn thu hút các dự án ĐTNN phù hợp với định hướng. Tuyệt đối không nên thu hút các dự án sử dụng công nghệ lạc hậu, không thân thiện với môi trường.
Thu hút ĐTNN từ các doanh nghiệp nhỏ và vừa, dự án quy mô nhỏ, siêu nhỏ nhưng phải đảm bảo điều kiện về công nghệ và gia nhập mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu, nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế, phát triển ngành, nghề mới, tạo thêm việc làm.
Về chính sách, pháp luật: Tập trung hoàn thiện khung pháp luật liên quan đến đầu tư, ĐTNN, đặc biệt là một số nội dung chính như: (i) Nghiên cứu đổi mới quy trình, thủ tục thành lập doanh nghiệp, góp vốn, mua cổ phẩn, phần vốn góp; quy trình chấp thuận, điều chỉnh, chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư và cơ chế hoạt động của doanh nghiệp có vốn ĐTNN để thu hút và sử dụng ĐTNN có chọn lọc; (ii) Xây dựng, ban hành hệ thống chỉ số cụ thể làm cơ sở cho cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, chấp thuận chủ trương đầu tư (suất đầu tư trên một đơn vị diện tích đất; thâm dụng lao động; tiêu chuẩn, quy chuẩn về khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường…); (iii) Nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung các luật hiện hành phù hợp với Luật Cạnh tranh năm 2018 để áp dụng thống nhất đối với hoạt động mua bán và sáp nhập (M&A), trong đó có M&A xuyên biên giới; kiểm soát chặt chẽ việc thâu tóm của nhà ĐTNN và doanh nghệp ĐTNN đối với doanh nghiệp trong nước; (iv) Nghiên cứu, ban hành Luật Đối tác Công – Tư (PPP) nhằm khuyến khích mạnh mẽ nhà ĐTNN, đặc biệt là nhà đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, trong đó cần có các cơ chế, biện pháp thu hút, bảo đảm đầu tư thông qua các công cụ hỗ trợ, bảo đảm, bảo lãnh của Chính phủ; (v) Nghiên cứu sửa đổi Luật Đất đai nhằm thu hút nhà ĐTNN đầu tư các dự án nông nghiệp quy mô lớn, ứng dụng khoa học-công nghệ vào sản xuất; (vi) Nghiên cứu, ban hành cơ chế, chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho tự do lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ và các nguồn lực tài chính; cơ chế tạo đột phá trong quyết định của nhà đầu tư, gồm xử lý tranh chấp, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ… để đẩy nhanh việc phát triển một số trung tâm tài chính, công nghệ quốc gia và khu vực với sự tham gia của tập đoàn đa quốc gia, tập đoàn kinh tế tư nhân, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo của Việt Nam…
Đồng thời, ta cần nghiêm túc đánh giá lại hiệu quả của các hiệp định tránh đánh thuế hai lần, tác động đến chính sách thuế của Việt Nam để điều chỉnh chính sách phù hợp. Đảm bảo sự tương thích giữa Luật Đầu tư, các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến ĐTNN với các điều ước quốc tế về đầu tư, đặc biệt là những quy định liên quan đến bảo hộ đầu tư, bảo vệ quyền tài sản của nhà đầu tư, đối xử công bằng và giải quyết tranh chấp. Ta cũng nên tính đến việc điều chỉnh chính sách thu hút và sử dụng ĐTNN nhằm bảo đảm tương thích và để thực thi các FTA thế hệ mới mà Việt Nam là thành viên.
Ngoài ra, ta nên có chính sách khuyến khích, thúc đẩy, hỗ trợ doanh nghiệp trong nước liên doanh, liên kết, góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của doanh nghiệp ĐTNN trong các dự án sử dụng công nghệ cao, công nghệ mới, công nghệ hỗ trợ… để dần tiếp tới sở hữu và làm chủ công nghệ. Đặc biệt cần có quy định cụ thể và bảo đảm thực thi nghiêm túc nguyên tắc không hồi tố đối với doanh nghiệp trong nước để đảm bảo đối xử công bằng giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp ĐTNN.
Bên cạnh việc hoàn thiện chính sách ưu đãi đầu tư theo hướng tập trung và gắn với đóng góp, trách nhiệm của doanh nghiệp, cần nghiên cứu, áp dụng cơ chế ưu đãi linh hoạt, gồm cả biện pháp phi tài chính nhằm tăng cường khả năng thu hút ĐTNN từ các đối tác tiềm năng, các tập đoàn đa quốc gia, tập đoành kinh tế tư nhân trong một số dự án đặc biệt quan trọng, tác động lớn đến kinh tế-xã hội./.

Nguyễn Thu Hằng