Chuyên gia hiến kế xây dựng các nền tảng số “made in Vietnam”

15

Một số nghiên cứu nhận thấy, tổ chức kinh doanh trên các nền tảng số hoặc khởi nghiệp trên các mô hình số sẽ là giải pháp cứu nguy cho nhiều doanh nghiệp, cá nhân trong cuộc chiến chưa biết hồi kết với đại dịch Covid-19. Nhưng xây dựng nền tảng số thế nào cho phù hợp tại Việt Nam vẫn là một vấn đề cần được nghiên cứu kỹ.

Kinh tế số nói chung và kinh tế nền tảng nói riêng được cho là trụ cột của xã hội tương lai. Năm 2020, thế giới đang chứng kiến nhiều biến động do đại dịch Covid-19 và nguy cơ khủng hoảng toàn cầu nhưng các nền tảng số như Amazon, eBay, Alibaba… không chỉ chống chọi tốt với bất ổn của thị trường mà còn có xu hướng phát triển nhanh và mạnh.

Báo cáo về nền kinh tế số Đông Nam Á của Google, Tamesek và Bain&Company năm 2019 cho thấy, kinh tế số của Việt Nam và Indonesia tăng trưởng dẫn đầu khu vực (khoảng 38%) và dự kiến có thể đạt mục tiêu 43 tỷ USD vào năm 2025. Trên thực tế, một số nền tảng số của người Việt đang manh nha hình thành, nhưng sự cạnh tranh là vô cùng khốc liệt bởi nhiều nền tảng nước ngoài đã có chi phí cận biên gần như bằng không và đang dần xác lập hiệu ứng mạng độc quyền tại Việt Nam.

Tại Tọa đàm Chính sách Trực tuyến “Xây dựng các nền tảng số riêng của Việt Nam: Ý tưởng và tính khả thi” do Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) các chuyên gia nhận định, Việt Nam đã chứng kiến không ít những thành công và thất bại của các nền tảng số. Một số nền tảng có tốc độ phát triển nhanh và mạnh như Momo, dịch vụ ví điện tử tiếp cận hơn 10 triệu người dùng (năm 2018) và thành công gọi vốn trị giá trị hơn 100 triệu USD từ Warburg Pincus, đồng thời lọt top 100 công ty công nghệ tài chính lớn nhất toàn cầu. Hay Zalo – ứng dụng nhắn tin và gọi điện miễn phí tương tự như Whatssap đã chứng kiến doanh thu tăng trưởng ở mức 20% trong năm 2019 và lợi nhuận trước thuế tăng 1,5 lần lên mức 641 tỷ đồng.

Tuy nhiên, cũng không ít những tên tuổi xuất hiện đình đám nhưng nhanh chóng biến mất trên thị trường như Lotus, Gapo – mạng xã hội được kỳ vọng sẽ thay thế Facebook. Theo các chuyên gia, những nền tảng Việt xây dựng dựa trên mô hình của thế giới nếu không có tính sáng tạo đặc biệt sẽ không thể tham gia vào thị trường mà những “tay chơi ngoại quốc” đã chiếm vị trí độc tôn. Đơn cử như Facebook, Twitter đã được phát triển thân thiện với người dùng Việt, sở hữu lượng thông tin khổng lồ từ hàng tỷ người dùng qua nhiều năm, thì các nền tảng Việt tương tự sẽ trở nên kém cạnh tranh hơn.

Trong khi đó, Momo chiếm ưu thế hơn so với các nền tảng nước ngoài như Paypal vì hệ thống ngôn ngữ, giao diện gần gũi với người Việt, khả năng kết nối với nhiều ngân hàng nội địa thông qua hệ thống thẻ tín dụng mà phần đông người Việt sở hữu.

Các chuyên gia đều nhất trí rằng, nền tảng số mới vẫn có khả năng thành công nếu đảm bảo được tính khác biệt. Điển hình như Instagram, một nền tảng kết nối xã hội tương tự như Facebook, song cá biệt hóa mình bằng hình thức chia sẻ thông tin chủ yếu bằng hình ảnh hay như Tiktok thu hút tương tác qua các video độc đáo mà người sử dụng đăng lên.

Về ý tưởng để xây dựng nền tảng số riêng của Việt Nam, Chủ tịch Venture Management Consulting Group; Sáng lập Strategy Academy; Phó Chủ tịch Vietnam Mentor Initiative Trịnh Minh Giang, nền tảng số là yếu tố thiết yếu đối với Việt Nam. Hiện tại, các nền tảng số mới của Việt Nam có ít sự sáng tạo nên có thể khó cạnh tranh với các nền tảng khác trên thế giới. Dịch Covid-19 có thể là động lực để tạo nên bước ngoặt lớn cho Việt Nam hoặc sẽ là niềm nuối tiếc lớn nếu bỏ lỡ việc xây dựng nền tảng số. Cơ hội để phát triển nền tảng số tại thị trường Việt Nam rất lớn, các nền tảng số cũng sẽ hỗ trợ việc đưa Việt Nam ra thế giới mà không gặp bất kì rào cản nào.

Nhưng cần lưu ý rằng, các nền tảng Việt muốn vươn ra thế giới, trước hết nên đảm bảo sự sinh tồn tại thị trường nội địa. Thêm vào đó, để cạnh tranh với những nền tảng đã có sẵn với đông người sử dụng, không còn cách nào khác ngoài cách tăng tính khác biệt và tính nội địa hóa.

Nguyên Giám đốc Chương trình Nghiên cứu Trung Quốc thuộc VEPR TS. Phạm Sỹ Thành nhận định, Trung Quốc là một ví dụ thành công trong việc xây dựng nền tảng số Wechat, Tiktok thay thế cho sự phát triển của Facebook, Twitter tại thị trường nội địa. Quy mô thị trường 1,4 tỷ dân của Trung Quốc cũng là một cơ hội cho các nhà sáng lập sáng tạo nên các nền tảng mới. Song do môi trường thể chế của Trung Quốc đang ưu tiên cho các doanh nghiệp trong nước đánh bật các nền tảng số của nước khác nên mọi cơ hội cho nền tảng của nước khác đều khó khăn trong việc thâm nhập vào thị trường tiềm năng này.

“Điều khác biệt lớn nhất giữ Trung Quốc và Việt Nam chính là Trung Quốc biết họ thực sự muốn cái gì. Họ làm rất nhất quán và xác định rõ họ muốn cái gì từ đó đưa ra các chính sách dài hạn thích hợp. Chính vì vậy, Chính phủ, doanh nghiệp Việt phải thực sự biết và hiểu rõ về nền tảng số thực sự cần với Việt Nam, sau đó, đưa ra các quyết tâm dài hạn nhất quán để doanh nghiệp xác định được họ nên làm gì để phát triển nền tảng số”, TS. Phạm Sỹ Thành chia sẻ.

Còn theo nguyên Viện trưởng VEPR TS. Nguyễn Đức Thành, vai trò của các nhà lập pháp trong quá trình doanh nghiệp phát triển các nền tảng số là rất quan trọng. Hệ thống pháp lý, văn hoá là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc tạo ra một sân chơi công bằng trong lĩnh vực này. Nhưng vai trò của nhà nước nên tự hạn chế trong vấn đề này. Nhà nước chỉ nên có vai trò tạo ra môi trường cạnh tranh công bằng thay vì cạnh tranh với nhà nước khác hay các các doanh nghiệp khác trong việc hỗ trợ, sáng tạo các nền tảng.

“Sản phẩm của nền tảng số cuối cùng là để phục vụ nhu cầu mang tính chất vật lý và sinh lý nhưng đặt trong nền tảng thì nó sẽ ưu việt hơn, tốt hơn rất nhiều lần so với thời kì trước. Các doanh nghiệp phải thực sự hiểu rõ điều này để có những bước đi đúng đắn”, TS. Nguyễn Đức Thành nhấn mạnh.

Gia Thành